Thứ Hai, Tháng Mười 3, 2022
Google search engine
HomeLUẬT ĐẤT ĐAITranh chấp về quyền sử dụng đất thì giải quyết như thế...

Tranh chấp về quyền sử dụng đất thì giải quyết như thế nào?

Xem Thêm : Đất có ký hiệu T là đất gì?

Thực trạng tranh chấp đất đai do quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gặp nhiều sai sót về chủ sở hữu, diện tích đất,… diễn ra khá phổ biến. Khi giải quyết các tranh chấp này, cần nắm rõ toàn bộ quy trình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nguồn gốc đất để có hướng giải quyết phù hợp.

Khi xảy ra tranh chấp đất đai, nhiều người không biết phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình? Trình tự và thủ tục như thế nào? Các bước là gì? Trong trường hợp đó, cơ sở pháp lý nào cần được áp dụng?

Với những vướng mắc trên, bạn có thể liên hệ tới đường dây nóng của Luật Minh Gia 1900.6169 để chúng tôi có thể hỗ trợ và trả lời các câu hỏi của bạn. Bên cạnh đó, với đội ngũ luật sư chuyên tư vấn trong lĩnh vực đất đai, chúng tôi sẽ hướng dẫn các thủ tục và đề xuất hướng giải quyết cho bạn.

Câu hỏi tư vấn: Em xin anh chị bớt chút thời gian tư vấn giúp em. Nó như thế này. Gia đình tôi có mảnh đất khoảng 750 m2 do ông bà cho năm 1971 do không đủ điều kiện nên chưa làm được sổ đỏ và phải đến năm 2018 tôi mới đi làm thủ tục sang tên sổ đỏ. vào sổ tìm hiểu thì đo đạc chia đất năm 1985. Đất của tôi được chia thành 2 mảnh 1 (405m2) và mảnh 2 (350m2). Và hiện tại lô đất đã được quy hoạch làm đường và phía dưới đường là mảnh (330m2) (nhà khác.) Mảnh 1 có tên bố tôi (ông A) và mảnh 2 có ghi tên người khác (ông B là chủ sở hữu của thửa 3) và ba mảnh mang tên Cha Em (Mr A). Và năm 1996 và 2015 địa chính gom thửa 1 và 2 thành 1 mảnh mang tên bố tôi (ông A) nhưng đến năm 2018 khi tôi đi làm sổ đỏ thì người đứng ra làm sổ đỏ này là người thân của ông. B nên tôi gọi điện cho ông B. làm đơn lên xã đòi đất. Và hiện nay đang xảy ra tranh chấp đất đai. Họ dựa vào sổ đất năm 1985 và lấy lý do bỏ nhà đi làm ăn xa gia đình tôi và địa chính trước năm 2016 đã tự ý gộp đất của ông B và ông A thành 1 để đòi mảnh đất thứ hai. Và đất của tôi được người dân và các cụ ký xác nhận là đất nhà tôi. Xin luật sư tư vấn giúp tôi.

Trả lời chuyên gia tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

Thứ nhất, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Trong trường hợp này, bạn có thể làm đơn yêu cầu tra cứu thông tin trên hồ sơ địa chính về 2 mảnh đất sau đó gửi đến Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã, đồng thời để chứng minh ba bạn là chính. những chủ sở hữu. của mảnh đất thì bạn cần làm thủ tục để được UBND cấp xã xác nhận là ba bạn hiện đang sinh sống và kinh doanh trên chính mảnh đất này.

Thứ hai, về điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Căn cứ quy định tại Điều 101 Luật đất đai năm 2013 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nhưng không có quyền sử dụng đất. các giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, diêm nghiệp trên địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận, người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này mà đã sử dụng ổn định trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai. , được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Nếu được quốc gia có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này. ”

Điều kiện, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 43/2014 / NĐ-CP như sau:

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định trước ngày 01 tháng 01 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Bộ luật Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định Việc này được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là không có tranh chấp về sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới. đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã được sử dụng Nếu sử dụng đất trước thời điểm được phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất vào nơi chưa có quy hoạch thì quyền sử dụng được công nhận như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi chung là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; Trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở, công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt. ở đó;

b) Đối với thửa đất có công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ được công nhận theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình công nghiệp. chương trình đó; hình thức sử dụng đất được công nhận là hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài;

c) Đối với thửa đất vừa có nhà ở, vừa có công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì được công nhận diện tích đất ở theo các quy định. quy định tại điểm a khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp được công nhận theo quy định tại điểm b khoản này;

d) Phần diện tích đất còn lại sau khi được xác định theo quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại khoản 5 Điều này. ”

Như vậy, nếu có đủ các điều kiện trên thì gia đình bạn sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Nguồn: https://chungcumatphohn.com
Danh mục: LUẬT ĐẤT ĐAI

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Phản hồi gần đây